Sở Nội Vụ Tỉnh Kiên Giang

Trang chủ

Liên hệ

    Lịch công tác  

 Tin tức - Sự kiện
 Thông tin Chuyên ngành
   Đào tạo - Thi tuyển
   Tôn giáo
   Thi đua khen thưởng
   Văn thư - Lưu trữ
   Hoạt động tôn giáo
   Hoạt động thi đua KT
   Xây dựng chính quyền
   Địa giới hành chính
   Tổ chức - Công chức
   Công tác văn thư, lưu trữ
 Cải cách Hành chính
 Văn bản ngành
 Bầu cử ĐBQH và HĐND
 Giới Thiệu

 
  

GoogleSoNoiVu

 

 
 
 
Thông tin được đưa ngày: 22-12-2011
Thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Kiên Giang

Kết quả thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của UBND cấp tỉnh Kiên Giang giai đoạn từ năm 2003 đến 2011, trên từng lĩnh vực theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003.

 

1. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh:

- Lĩnh vực phát triển kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 11,54%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 1.605 USD (tăng 2,6 lần so năm 2003). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm - thủy sản từ 47,27% xuống 42,6%; dịch vụ tăng từ 25,73% lên 33,1%. nông - lâm - thủy sản tăng trưởng bình quân 7,92%/năm; sản lượng lương thực ước năm 2011 đạt trên 3,9 triệu tấn (vượt 11,43% so với Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh đề ra đến năm 2011); khai thác và nuôi trồng thủy sản 503.240 tấn (tăng 64%); tăng cường công tác bảo vệ và trồng rừng, trồng mới thêm 2.300 ha rừng, tạo độ che phủ rừng đạt 13,1%. công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân 13,3%/năm; dịch vụ tăng 18,59%/năm; kim ngạch xuất khẩu 2011 ước đạt 580 triệu USD (vượt mục tiêu đề ra). Thực hiện lộ trình sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, đến nay sau sắp xếp tỉnh còn 14 công ty (05 công ty TNHH một thành viên 100% vốn Nhà nước, 09 công ty cổ phần có vốn Nhà nước chi phối), các doanh nghiệp sau sắp xếp đã nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh, vốn điều lệ tăng.

- Lĩnh vực văn hóa - xã hội: về giáo dục, mạng lưới trường lớp được đầu tư, phòng học kiên cố chiếm 98,64%, huy động học sinh từ 6 đến 14 tuổi đến trường hằng năm đạt 96%; đội ngũ giáo viên các cấp học được chuẩn hóa trên 97%; tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm tăng; hầu hết các xã, phường, thị trấn có  trung tâm học tập cộng đồng và bước đầu hoạt động có kết quả; củng cố, duy trì phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Về y tế, bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện được đầu tư, sữa chữa, nâng cấp, tăng cường trang thiết bị khám và điều trị; 92% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 100% trạm y tế có bác sĩ; công tác xã hội hóa về y tế ngày thu hút nhiều thành phần tham gia, góp phần tích cực vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.  Thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,02% năm 2005 xuống còn 7,3% năm 2011 (theo tiêu chí mới); tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 36%, trong đó đào tạo nghề 26,4%; bình quân giải quyết việc làm ổn định cho 27.800 lao động/năm; thực hiện khá tốt chính sách xã hội, nhất là xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, cấp thẻ BHYT, trợ cấp thường xuyên cho các gia đình chính sách, trẻ em và người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từng bước được nâng lên về chất lượng, có 86% hộ gia đình, 98% tổ nhân dân tự quản, 70% ấp, khu phố, 95% cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa.

- Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của chính quyền đối với công tác quốc phòng, an ninh; quan tâm làm tốt công tác giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh, từ đó nhận thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được nâng lên; sự phối hợp hoạt động giữa Công an, Quân sự, Biên phòng chặt chẽ hơn; triển khai thực hiện có kết quả Đề án xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, hải đảo; Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới và xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết của Bộ Chính trị; diễn tập khu vực phòng thủ và xử lý các tình huống được tổ chức khá tốt ở các cấp; thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân từng bước được tăng cường. Triển khai các phương án, đề án nhằm chủ động bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh - trật tự các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm; trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã chú trọng gắn kết với củng cố quốc phòng - an ninh; tập trung xây dựng khu vực phòng thủ trên đảo Phú Quốc. Các lực lượng đã chủ động nắm tình hình, tập trung đấu tranh làm thất bại nhiều âm mưu, kế hoạch chống phá của các thế lực thù địch giữ ổn định chính trị - xã hội. Công tác phòng, chống tội phạm được đẩy mạnh, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng giảm 4,47%, tạo chuyển biến tốt hơn về trật tự an toàn xã hội.

-  Xây dựng chính quyền và công tác dân vận, dân chủ ở cơ sở: Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo thực hiện thành công các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, khóa XIII, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009 và 2011 - 2016. Tổ chức phân loại đơn vị hành chính theo quy định của Chính phủ với kết quả, tỉnh Kiên Giang là đơn vị hành chính loại II; cấp huyện có 14/15 đơn vị được phân loại, trong đó loại I có 03, loại II có 08, loại III có 03; cấp xã có 145/145 đơn vị được phân loại, trong đó loại I có 102, loại II có 42, loại III có 01. Triển khai thực hiện các văn bản của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính huyện, thành lập huyện U Minh Thượng, huyện Giang Thành và thành lập một số xã thuộc các huyện Vĩnh Thuận, Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Giồng Riềng, thị xã Hà Tiên; xây dựng kế hoạch lập mới, bổ sung, chỉnh lý hồ sơ bản đồ địa giới hành chính tỉnh Kiên Giang theo Nghị định số 158/2007/NĐ-CP và Nghị quyết số 29/NQ-CP. Triển khai thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân ở 11 huyện và 15 phường, thí điểm Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại 04 huyện, thị xã và 18 xã, phường, thị trấn. Quyết định thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh, hiện nay, toàn tỉnh có 774 đơn vị sự nghiệp, trong đó có 170 đơn vị cấp tỉnh, 604 đơn vị cấp huyện. Cho phép thành lập mới 34 tổ chức hội quần chúng, nâng tổng số đến nay lên 557 tổ chức hội (cấp tỉnh 46, cấp huyện 74, cấp xã 437). Triển khai thực hiện Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân vận chính quyền. Từ đó nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện và phát huy dân chủ ngày càng được nâng lên. Các xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước đã từng bước thực hiện có hiệu quả, những việc cần thông báo công khai cho dân biết, tổ chức cho dân tham gia ý kiến bàn bạc quyết định và tạo điều kiện cho dân giám sát kiểm tra.

- Về công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: Đã tiến hành thanh tra, kiểm tra kết thúc 1.298 cuộc, phát hiện sai phạm 163,3 tỷ đồng thu nộp vào ngân sách nhà nước, kiểm điểm 148 tập thể, xử lý kỷ luật hành chính 446 cá nhân, thu hồi 3.168 ha đất nông nghiệp. Chính quyền các cấp thực hiện khá tốt việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân và triển khai thực hiện có hiệu quả các quyết định có hiệu lực, việc tổ chức tiếp công dân được thực hiện ngày càng nề nếp. Tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả một số vụ phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo, khiếu nại đông người kéo dài nhất là tranh chấp đất đai, giải quyết đền bù, tái định cư, phát triển kết cấu hạ tầng ở một số huyện trong tỉnh, góp phần ổn định an ninh trật tự, sản xuất và đời sống ở địa phương; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân được quan tâm, đã tiếp nhận 1.809 đơn khiếu nại, tố cáo, đã giải quyết 1.771 đơn đạt 97,89%. Từ năm 2007 đến ngày 30/9/2011, đã khởi tố 40 vụ 63 bị can về tội danh tham nhũng, truy tố 35 vụ 59 bị can; tạm đình chỉ 05 vụ 04 bị can. Triển khai thực hiện nghiêm Pháp lệnh Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quy định, chỉ thị như: quy định về số lượng xe ô tô ở mỗi cơ quan, đơn vị; quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện đi lại thuộc cấp xã; Chỉ thị về việc chấn chỉnh công tác quản lý tài sản công; quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại công vụ nhà riêng và điện thoại di động đối với cán bộ lãnh đạo, thực hiện khoán biên chế và kinh phí đã góp phần thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí. Công tác thẩm tra quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản được tăng cường, qua thẩm tra 5.364 hồ sơ công trình, hạng mục công trình đã tiết kiệm ngân sách 76,9 tỷ đồng, giảm 1,95% so với tổng giá trị đề nghị phê duyệt; thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tỉnh đã ngưng thi công 27 dự án, vốn đầu tư 70,277 tỷ đồng, tiết kiệm chi thường xuyên 57,2 tỷ đồng.  

- Lãnh đạo thực hiện công tác cải cách hành chính: đã kịp thời cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng, chương trình, kế hoạch, đề án cải cách hành chính của Chính phủ trên địa bàn, hoàn thành đúng tiến độ Đề án cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ (Đề án 30) và vượt chỉ tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính hơn 02 lần. Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến nay có 17/19 sở ngành cấp tỉnh, 15/15 huyện, thị xã, thành phố và 145/145 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa. Kết quả giải quyết hồ sơ trả đúng hẹn khá cao, bình quân cấp tỉnh đạt 99,7%, cấp huyện đạt 98,9% và cấp xã đạt 99,9%. Thực hiện cơ chế một cửa liên thông lĩnh vực đăng ký kinh doanh, lĩnh vực đầu tư tại Sở Kế hoạch và Đầu tư; thí điểm thực hiện cơ chế một cửa liên thông lĩnh vực đất đai giữa cấp xã với cấp huyện. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên các mặt, chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học, đến nay cán bộ công chức hành chính có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên chiếm 52,9%, trình độ lý luận từ trung cấp trở lên chiếm 39,23%. Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ, quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan nhà nước, đến nay cấp tỉnh có 38/38 cơ quan đạt 100%, cấp huyện 336/340 cơ quan đạt 98,82%, cấp xã 132/145 đạt 91,03% đã thực hiện; thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ, đến nay toàn tỉnh có 437/774 đạt 56,56% đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, trong đó cấp tỉnh 116/170 (68,24%), cấp huyện 321/604 đơn vị (53,15%). Triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008, đến nay toàn tỉnh có 38/40 cơ quan hành chính được triển khai đã được cơ quan chức năng cấp Giấy chứng nhận.

 + Tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưởng cán bộ công chức. Từ năm 2005 đến nay đã đào tạo chuyên môn 907 người, quản lý Nhà nước 1.975 người, lý luận chính trị 1.104 người, tin học 1.436 người, ngoại ngữ 563 người; cán bộ công chức hành chính có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên chiếm 52,9%, trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên 39,23%.

 + Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan Nhà nước, đến nay 188/202 cơ quan hành chính cấp tỉnh và cấp huyện thực hiện (trong đó có 19/19 sở, ngành), nhìn chung qua triển khai thực hiện đã có tác dụng tích cực về mặt tài chính, một số đơn vị tiết kiệm được biên chế được giao; thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức hàng năm đạt bình quân từ 250.000đ đến 300.000đ/người/tháng.

- Về phân cấp quản lý Nhà nước giữa 03 cấp chính quyền địa phương hiện nay:  Kết quả quản lý điều hành ngân sách thời gian qua cơ bản tốt, thu ngân sách hàng năm đều vượt chỉ tiêu Trung ương giao và đạt chỉ tiêu Hội đồng nhân dân đề ra. Chi ngân sách cơ bản đảm bảo, không để xảy ra mất cân đối. Việc cải cách tài chính công có bước tiến bộ; việc thực hiện phân cấp quản lý ngân sách, công khai các nguồn thu, khoán chi theo chiều hướng ổn định tạo tính chủ động cho cơ sở, ngành, địa phương trong việc thực hiện cân đối thu chi ngân sách. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát quá trình sử dụng vốn, tài sản đã góp phần hạn chế các vi phạm về chế độ quản lý tài chính, sử dụng có hiệu quả ngân sách, tài sản Nhà nước; phân cấp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đã tạo tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương trong việc phát huy nội lực, tiềm năng lợi thế để phát triển, cụ thể thực hiện đầu tư toàn xã năm 2010 đạt 19.500 tỷ đồng (chiếm 45.5% GDP). Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản do địa phương quản lý năm năm 2010 đạt 3.974 tỷ đồng; phân cấp quản lý biên chế, quản lý cán bộ, công chức đã tạo thuận lợi hơn trong quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, điều động và luân chuyển cán bộ theo yêu cầu của địa phương, đơn vị, nâng lên tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, đơn vị. UBND tỉnh đã phân cấp cho Giám đốc sở bổ nhiệm Trưởng phòng cấp sở và tương đương; Chủ tịch UBND cấp huyện thuộc tỉnh bổ nhiệm Trưởng, Phó phòng thuộc UBND cấp huyện; phân cấp cho UBND cấp huyện thuộc tỉnh tổ chức tuyển dụng, điều động và kỷ luật công chức cấp xã…

- Thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của tập thể UBND và của cá nhân Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên UBND cấp tỉnh: Hàng năm, UBND tỉnh đều chủ động xây dựng chương trình công tác, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện. Tiếp tục cải tiến nội dung các cuộc họp và dành nhiều thời gian đi cơ sở, trực tiếp kiểm tra nắm tình hình và chỉ đạo xử lý kịp thời một số vướng mắc. Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh có nhiều đổi mới. Trong phân công công việc theo hướng mỗi việc chỉ được giao cho một đơn vị, một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính, đồng thời đề cao sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin; bảo đảm dân chủ, rõ ràng, minh bạch, hiệu quả. Đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; kết hợp vai trò tập thể qua thảo luận quyết định các vấn đề quan trọng, đề cao vai trò trách nhiệm cá nhân Chủ tịch, các Phó Chủ tịch trong điều hành lĩnh vực được phân công. Đối với các chương trình, dự án lớn đều phân công cụ thể Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, thành viên UBND tỉnh theo dõi, chỉ đạo và đôn đốc. Chú trọng chỉ đạo điều hành theo chương trình, kế hoạch, đồng thời có sự linh động trong điều hành, tập trung ưu tiên giải quyết những vấn đề trọng tâm, trọng điểm và bức xúc mới phát sinh.

- Giải quyết công việc đúng thẩm quyền và phạm vi trách nhiệm của mỗi thành viên, cấp trên không làm thay công việc của cấp dưới, tập thể không làm thay công việc của cá nhân; phân công công việc giữa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch đảm bảo nguyên tắc: mỗi Phó Chủ tịch phụ trách chỉ đạo một số lĩnh vực công tác theo sự phân công của Chủ tịch, giải quyết các công việc thuộc lĩnh vực được phân công và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch về các quyết định của mình.

Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh còn những mặt hạn chế là:

Tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra, chất lượng hiệu quả sức cạnh tranh thấp; cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm. Chất lượng giáo dục- đào tạo nâng lên chậm, nguồn nhân lực nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đời sống của 1 bộ phận nhân dân còn nhiểu khó khăn, nhất là vùng đồng bào dân tộc khmer. Tình hình an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội có mặt diễn biến phức tạp, tranh chấp khiếu nại trong dân tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông có xu hướng tăng. Năng lực lãnh đạo điều hành của chính quyền một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Hệ thống thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực vẫn còn rườm rà, phức tạp, gây nhiều khó khăn phiền hà cho nhân dân, chất lượng thực hiện cơ chế một cửa nâng lên chậm, việc triển khai cơ chế một cửa liên thông còn chậm và lúng túng. Việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước một số địa phương còn hạn chế, chất lượng, hiệu quả có mặt chưa cao; nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, trong thực tế đã làm hạn chế đến tính kịp thời, nhanh nhạy, thông suốt quản lý, điều hành hành chính của Chủ tịch UBND; trách nhiệm của tập thể và cá nhân; của người đứng đầu UBND với cấp phó và các thành viên UBND chưa thật sự rõ ràng cụ thể, rất khó xác định khi xảy ra các vụ việc thuộc trách nhiệm thẩm quyền của UBND.

2. Về cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND tỉnh:

- Về cơ cấu tổ chức bộ máy UBND cấp tỉnh hiện nay: có 11 thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong đó: Chủ tịch, 04 Phó Chủ tịch và 05 Ủy viên (Công an, Quân sự, Văn Phòng Ủy ban nhân dân, Nội vụ, Thanh tra tỉnh); trình độ lý luận chính trị cao cấp 100%, trình độ chuyên môn đại học và trên đại học 100% (07 đại học bằng 54,54 %; 04 sau đại học bằng 45,46%).

- Về việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND tỉnh theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ, còn 19 cơ quan chuyên môn (giảm 07 cơ quan); thực hiện Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 và Nghị định 12/2010/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ. Sau sắp xếp, cấp huyện còn 178 cơ quan, giảm 04 cơ quan, trong đó 12 huyện, thị xã, thành phố mỗi đơn vị có 13 cơ quan; 02 huyện, mỗi huyện có 12 cơ quan, riêng huyện Kiên Hải có 10 cơ quan chuyên môn. Cơ quan mang tính đặc thù riêng: cấp tỉnh có 02 cơ quan: Ban Dân tộc tỉnh, Sở Ngoại vụ và cấp huyện có 12 Phòng Dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân 12/15 huyện, thị xã, thành phố. Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy 18/19 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (còn Ban Dân tộc tỉnh) và hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, đến nay 100% Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố đã quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tất cả các cơ quan chuyên môn trực thuộc.

Tuy nhiên, sau sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, bộc lộ một số bất cập và vướng mắc như:

 - Số lần sắp xếp lại hệ thống cơ quan hành chính quá nhiều (10 năm 03 lần sắp xếp) nhưng chưa tạo được sự chuyển biến tích cực, tính ổn định không cao; số lượng phòng chuyên môn, chi cục bên trong cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tăng (Chi cục tăng từ 8 lên 18); số đơn vị sự nghiệp tăng nhanh (từ 84 lên 118) dẫn đến biên chế tăng, gây áp lực lớn về ngân sách địa phương;

- Mô hình sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực còn bất cập như quy mô, địa bàn, đối tượng quản lý quá lớn không bao quát hết (Sở Y tế quản lý các đơn vị tới cấp huyện, trạm y tế cấp xã), có đơn vị quản lý đa ngành nhưng có ngành khác chức năng (Tôn giáo thuộc cơ quan Nội vụ), chưa có sự khác biệt cơ bản trong việc bố trí phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố so với Ủy ban nhân dân huyện nông thôn, nên một số lĩnh vực trong quản lý đô thị như trật tự trong xây dựng, giao thông, bảo vệ môi trường đô thị…

3. Về phương thức hoạt động của UBND tỉnh:

-  Tiếp tục được đổi mới thông qua việc ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh và các quyết định phân công công việc của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Theo đó, quy định rõ ràng về chế độ làm việc, trách nhiệm của tập thể UBND và trách nhiệm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và từng thành viên UBND tỉnh.  Các chủ trương, kế hoạch của UBND cơ bản được đề ra trên cơ sở thảo luận dân chủ, tranh luận thẳng thắn, tạo sự thống nhất cao. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng sự lãnh đạo của tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân. Khi đã có chủ trương thì chỉ đạo thực hiện quyết liệt dồn sức thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, nâng cao vai trò trách nhiệm của các cơ quan tham mưu và cá nhân phụ trách, đồng thời tranh thủ sự lãnh đạo của cấp trên. Các quyết định, chủ trương thể hiện đúng định hướng quan điểm của Đảng, Nhà nước và phù hợp với thực tế cuộc sống.

- Chủ tịch UBND các cấp cơ bản thực hiện đúng thẩm quyền và trách nhiệm của mình, nội dung các kỳ hội nghị được chuẩn bị khá tốt, có chất lượng. UBND tỉnh giữ được nề nếp mỗi tháng họp thành viên UBND 01 lần và họp giao ban với các cơ quan chuyên môn và UBND cấp dưới, qua đó nắm tình hình chỉ đạo sát công việc hơn, đôn đốc và xử các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền.

- Trong quá trình triển khai thực hiện công tác chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh đã ban hành 26.072 văn bản trong đó 19.992 quyết định, 84 chỉ thị; UBND cấp huyện ban hành 23.200 văn bản trong đó có 6.080 quyết định, 17 chỉ thị, đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp.

- Ủy ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, “quyết định theo đa số”, (Điều 124 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003); thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ tịch UBND chủ yếu là đôn đốc kiểm tra công việc, triệu tập và chủ trì các phiên họp của UBND, ký thay mặt UBND các văn bản quản lý hành chính (Điều 127 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003); phải “chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình” và “cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND và HĐND và cơ quan Nhà nước cấp trên” (Điều 126 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003).

- Về thực hiện chủ trương thí điểm Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND, Kiên Giang có 4/15 huyện, thị xã, thành phố, chiếm 26,6% gồm: UBND thị xã Hà Tiên, huyện Châu Thành, Phú Quốc, U Minh Thượng; cấp xã, có 18/145 chiếm 12,41%, gồm: 11 xã, 05 phường, 02 thị trấn. Các đơn vị thực hiện thí điểm, chủ động lựa chọn cán bộ bố trí vào chức danh Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND; sắp xếp lại đội ngũ cán bộ; phân công lại nhiệm vụ đối với các đồng chí trong thường trực cấp ủy và UBND; đã sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ, thường trực cấp ủy và UBND cùng cấp. Quy chế quy định rõ đồng chí Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND chủ trì nội dung, kết luận các cuộc họp, chỉ đạo các hoạt động của BCH, BTV, UBND; chỉ đạo thực hiện các vấn đề quan trọng về xây dựng đảng, xây dựng chính quyền; phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác tổ chức cán bộ; cho ý kiến trực tiếp khi cần thiết đối với những lĩnh vực khác.

+ Việc thực hiện nhất thể hóa chức danh Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND đã nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất trong lãnh đạo với chỉ đạo và điều hành, nhất là việc chuẩn bị, ban hành chủ trương, nghị quyết của cấp ủy với chỉ đạo, thực hiện của chính quyền; việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các đề xuất, kiến nghị của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân ở tại địa phương được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi; giảm bớt khâu trung gian, thời gian hội họp, bộ máy tinh gọn, đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu; khắc phục được tình trạng thiếu đồng bộ, thống nhất giữa chủ trương và tổ chức thực hiện, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, chỉ đạo không thống nhất giữa Bí thư với Chủ tịch UBND, giữa thường trực cấp ủy với thường trực UBND.

+ Đồng chí Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND có quyền bao quát và linh hoạt hơn, có tác dụng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND, thường trực cấp ủy, UBND và các cơ quan tham mưu, giúp việc.

- Thường xuyên giữ mối liên hệ với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương nhằm xử lý có hiệu quả một số tình hình, diễn biến phức tạp và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh, nhất là là các khó khăn về vốn, thị trường về đất đai, về thuế phí và các thủ tục hành chính; chỉ đạo tốt công tác phòng chống và khắc phục thiên tai.

+ Phối hợp chặt chẽ với Thường trực HĐND tỉnh trong việc chuẩn bị chương trình, nội dung làm việc của kỳ họp Hội đồng nhân dân, các báo cáo, đề án trình Hội đồng nhân dân; giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương; nghiên cứu giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị của Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân; trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

+ Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động nhân dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền vững mạnh, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ủy ban nhân dân và các thành viên Ủy ban nhân dân giải quyết và trả lời khá tốt các kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

+ Đảm bảo được sự phối hợp công tác giữa sở, ban, ngành với UBND cấp huyện trong sự chỉ đạo tập trung, dân chủ, thống nhất, phân công thành viên UBND chỉ đạo huyện, duy trì tốt định kỳ họp giao ban hàng tháng với UBND huyện, phường nơi thí điểm, thông tin 02 chiều giữa UBND cấp trên và UBND cấp dưới được thực hiện khá tốt, từ đó đã kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của địa phương.

+ Mối quan hệ giữa cấp ủy và UBND cùng cấp nơi thí điểm khá chặt chẽ, những vấn đề quan trọng trước khi thực hiện UBND huyện, phường đều báo cáo xin ý kiến cấp ủy cùng cấp, đồng thời cấp ủy tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trên địa bàn.

+ Sự chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra của UBND thành phố, thị xã đối với hoạt động của UBND phường vẫn được thực hiện như trước khi thí điểm không tổ chức HĐND.

Tuy nhiên, về phương thức hoạt động của UBND tỉnh, còn có mặt hạn chế là:

- Chỉ đạo công tác triển khai quán triệt cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết ở các cấp, các ngành nhìn chung chậm, thiếu đồng bộ, hàng năm vẫn còn một số chỉ tiêu đạt thấp so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân; còn tổ chức hội họp nhiều, nhưng hiệu quả, chất lượng công việc nâng lên chậm. Một số cuộc họp thành viên UBND có nhiều nội dung nhưng chưa gửi trước để nghiên cứu, khi vào họp thì thời gian đọc tài liệu nhiều hơn thời gian thảo luận, nên chất lượng cuộc họp không cao; số lượng thành viên UBND còn vắng mặt tại các cuộc họp định kỳ; chế độ thông tin báo cáo một số nơi chưa thực hiện nghiêm túc, chất lượng báo cáo còn hạn chế; trong hoạt động của UBND thực tế rất khó xem xét, định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu UBND, tập thể UBND.

- Việc triển khai các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh của Chính phủ và tổ chức lấy ý kiến địa phương của các Bộ, Ngành Trung ương có thời gian gấp, nên chất lượng lấy ý kiến không cao; sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành Trung ương với địa phương từng lúc thiếu chặt chẽ, có những điểm chưa thông suốt, khi có những vấn đề phát sinh tỉnh cần xin ý kiến từ các Bộ, Ngành Trung ương thì chưa được đáp ứng kịp thời. Quan hệ giữa tỉnh với Trung ương vẫn còn mang nặng cơ chế “xin-cho”, làm cho địa phương gặp lúng túng, có những việc gặp phải bế tắc; việc ban hành các Thông tư hướng thực hiện còn chậm, chưa thống nhất;

- UBND một số địa phương chưa phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cùng cấp. Trong thực hiện nhiệm vụ chưa giữ vững định kỳ làm việc với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo quy định, chế độ thông tin báo cáo, kiến nghị đề xuất với UBND cấp trên có lúc chưa đầy đủ, thiếu kịp thời; Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND bước đầu có mặt còn lúng túng trong lãnh đạo, điều hành và xử lý công việc. Khối lượng công việc nhiều, mất nhiều thời gian tham dự các cuộc họp do cấp trên triệu tập, nên việc dành thời gian cho xử lý công việc, đi cơ sở nắm tình hình có mặt còn hạn chế. Một số nơi xây dựng quy chế làm việc, mối quan hệ công tác vẫn chưa rõ ràng, cụ thể, nên trong quá trình thực hiện có mặt chồng chéo.

- Việc thực hiện nguyên tắc, chế độ làm việc và phương pháp lãnh đạo, điều hành có mặt còn lúng túng, cán bộ bố trí thực hiện thí điểm nhiều nơi tuổi cao.

4. Về đội ngũ cán bộ, công chức của UBND cấp tỉnh

- Về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính ở cấp tỉnh: Tỉnh có 1.097 công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh trong tổng số 3.024 công chức toàn tỉnh, chiếm tỷ lệ 36,28%. Nữ 315 người, chiếm tỷ lệ 28,71% trong tổng số công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Dân tộc thiểu số: 40 người, chiếm tỷ lệ 3,65%. Về trình độ công chức: tiến sĩ 8 người, chiếm tỷ lệ 0,73%; thạc sĩ 64 người, chiếm tỷ lệ 5,83%; đại học, cao đẳng 824 người, chiếm tỷ lệ 75,11%; trung cấp 160 người, chiếm tỷ lệ 14,59%. Về cơ cấu ngạch công chức: chuyên viên cao cấp và tương đương: 10, chiếm tỷ lệ 0,91% ;  chuyên viên chính và tương đương: 153, chiếm tỷ lệ 13,95%; chuyên viên và tương đương: 640, chiếm tỷ lệ 58,34%; còn lại: 294, chiếm tỷ lệ 26,80%. Về tuổi đời: dưới 30: 163 người, chiếm tỷ lệ 48,15%; từ 30 đến dưới 40: 405 người, chiếm tỷ lệ 36,92%; 40 đến dưới 50: 316, chiếm tỷ lệ 28,81%; từ 50 trở lên: 213, chiếm tỷ lệ 19,42%.

- Thực hiện Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003  của Chính phủ, về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước; Thông tư 09/2004/TT-BNV ngày 19 tháng 02 năm 2004 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 23/2005/QĐ-UBND ngày 08 tháng 4 năm 2005 Quy định về phân cấp quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính thuộc tỉnh Kiên Giang. UBND tỉnh đã mạnh dạn phân cấp cho Giám đốc sở bổ nhiệm Trưởng, Phó phòng cấp sở và tương đương; Chủ tịch UBND huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh bổ nhiệm Trưởng, Phó phòng thuộc UBND; phân cấp cho UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thi tuyển, xét tuyển, tuyển dụng, điều động và kỷ luật công chức cấp xã… Qua đó đã giảm tải sự vụ, sự việc cơ quan cấp trên, tăng cường trách nhiệm và tính chủ động cho cơ quan cấp dưới; hàng năm trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch sử dụng biên chế hành chính và biên chế sự nghiệp thông qua HĐND tỉnh, trình HĐND tỉnh, Bộ Nội vụ  xem xét quyết định.

- Tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi đào tạo sau đại học và thu hút sử dụng trí thức, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 08/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 01 năm 2011 về chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và thu hút nguồn nhân lực tỉnh Kiên Giang.

Tuy nhiên, việc chỉ đạo xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức kế cận nhìn chung còn bất cập, dẫn tới việc thiếu cán bộ khi cần bố trí. Nâng cao chất lượng đội ngũ tuy có quan tâm thực hiện nhưng vẫn còn tình trạng đào tạo chưa gắn với quy hoạch, bố trí, sử dụng; việc cử công chức đi đào tạo nước ngoài, đào tạo dài hạn… còn hạn chế; bố trí công chức, không đúng ngành nghề chuyên môn đào tạo còn khá lớn, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác; việc nhận xét đánh giá công chức thông qua tập thể, bỏ phiếu để xếp loại hàng năm còn chung chung chưa phản ánh đúng thực tế về chất lượng đội ngũ công chức; việc tuyển dụng, điều động, bổ nhiệm công chức, còn một số ngành, địa phương chưa đảm bảo thực hiện đúng quy định; chính sách thu hút chưa khuyến kích được công chức về phục vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; việc giao biên chế hành chính hàng năm của Bộ Nội vụ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở địa phương, trong khi đó biên chế sự nghiệp tăng lên, ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn.

5. Việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND 11 huyện, 15 phường sau gần 03 năm tổ chức thực hiện:

- Bộ máy Nhà nước thu gọn đầu mối, giảm tầng nấc trung gian. Quy trình giải quyết công việc, thời gian ra quyết định, tổ chức triển khai thực hiện các quyết định của UBND huyện, phường được rút ngắn so với khi còn HĐND, nhất là các vấn đề phát sinh được giải quyết kịp thời (không phải chờ thông qua HĐND).

- Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước từ tỉnh đến cơ sở được đảm bảo, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, đồng thời tăng cường kiểm tra việc tổ chức thực hiện, kịp thời chỉ đạo giải quyết những khó khăn, vướng mắc của địa phương. HĐND, UBND huyện, thị xã, thành phố thực hiện khá tốt nhiệm vụ được giao khi không tổ chức HĐND phường. Mối quan hệ giữa cấp ủy và UBND cùng cấp nơi thí điểm khá chặt chẽ, đồng thời cấp ủy tăng cường kiểm tra giám sát UBND triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước trên địa bàn. Việc thực hiện cơ chế Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên UBND cấp dưới, tạo thuận lợi kịp thời hơn trong bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ theo yêu cầu của địa phương.

- Quyền đại diện và quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục được phát huy và bảo đảm bằng hình thức thông qua hoạt động của Đại biểu Quốc hội, Đại biểu HĐND cấp trên, thông qua hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trên địa bàn thông qua tiếp công dân định kỳ của Chủ tịch UBND huyện, phường.

- Tình hình kinh tế - xã hội các huyện, phường thí điểm vẫn duy trì được sự ổn định và có bước phát triển.

- Thực hiện Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 01 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện cho UBND tỉnh, UBND tỉnh đã quyết định bổ nhiệm 11 Chủ tịch, 31 Phó Chủ tịch và 38 Ủy viên UBND huyện. Đầu năm 2011 đến nay đã phê chuẩn 28 Ủy viên UBND huyện; bổ nhiệm 03, miễn nhiệm 03 Ủy viên UBND huyện, việc Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, thành viên UBND huyện, phường nơi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND được xem là cơ chế mới góp phần nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, đảm bảo sự tập trung của cơ quan hành chính cấp trên với cấp dưới, tạo thuận lợi cho công tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, hạn chế được tâm lý điều hành theo nhiệm kỳ. Đây là khâu đột phá, tạo nhận thức mới trong công tác bổ nhiệm cán bộ, phải thể hiện năng lực, trách nhiệm, nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì cấp trên bổ nhiệm người khác thay thế mà không qua bầu cử theo nhiệm kỳ.

- Khi không tổ chức HĐND phường, một số nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường trong quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến quy hoạch đô thị, hạ tầng giao thông đều giao cho UBND thành phố, thị xã từ đó tạo điều kiện thuận lợi trong điều hành, quản lý từ UBND thị xã, thành phố đến phường.

Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, phường nổi lên những mặt hạn chế là:

- HĐND tỉnh được giao thêm nhiệm vụ nhưng tổ chức bộ máy biên chế chưa được bổ sung tương ứng nên gặp khó khăn trong hoạt động nhất là hoạt động giám sát, từ đó công tác giám sát đối với hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân huyện nơi thí điểm còn ít; việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri gặp khó khăn do một số nơi Thường trực HĐND xã chưa phối hợp chặt chẽ đối với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc phân loại, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri để chuyển đến cấp có thẩm quyền giải quyết mà chuyển hết về HĐND tỉnh. Việc trả lời, giải quyết kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền UBND huyện, phường một số trường hợp còn chậm so với khi còn HĐND; sự chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn cụ thể của UBND cấp trên đối với hoạt động HĐND xã, thị trấn còn lúng túng, thiếu kịp thời do chưa có văn bản hướng dẫn của Trung ương; việc xây dựng quy chế làm việc của UBND huyện, phường nơi thí điểm không tổ chức HĐND còn gặp khó khăn, chưa thống nhất Trung ương chưa có ban hành quy chế mẫu.

- Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định có lúc chưa đầy đủ, thiếu kịp thời. Sự phối hợp giữa ngành tỉnh với huyện để giải quyết khó khăn, vướng mắc của địa phương còn hạn chế, sự chỉ đạo hướng dẫn của UBND huyện đối với hoạt động của HĐND xã, thị trấn còn lúng túng. Hoạt động của HĐND xã thị trấn khi không còn HĐND huyện, khi gặp khó khăn vướng mắc phải chờ xin ý kiến của HĐND cấp tỉnh hoặc Sở Nội vụ. Một số cấp ủy chưa quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của UBND cùng cấp.

6. Những đề xuất, kiến nghị:

- Về vai trò của cá nhân Chủ tịch UBND và tập thể UBND cần phân định rõ ràng về trách nhiệm, nhằm nâng cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của cá nhân Chủ tịch UBND và các thành viên UBND.

- Tăng số lượng Ủy viên UBND để có sự đại diện của nhiều ngành trong tập thể UBND khi quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương.

- Ban hành quy chế mẫu về hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện,  phường nơi thí điểm; quy chế mẫu hoạt động của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, phường.

- Việc nhất thể hóa hai chức danh này một mặt, tạo điều kiện thực tế cho việc đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước; mặt khác, còn là giải pháp quan trọng, hữu hiệu để đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đồng thời, còn góp phần giảm mạnh tệ quan liêu, trì trệ, hội họp nhiều,... của các cấp ủy cũng như của các cơ quan Nhà nước ở địa phương.

- Các địa phương đã tổ chức cho nhân dân tại cộng đồng dân cư ấp, khu phố bầu trực tiếp trưởng ấp, khu phố; cần mở rộng các hình thức lấy phiếu tín nhiệm trong nhân dân và thí điểm bầu đối với các chức danh chủ chốt của HĐND, UBND ở cấp xã.

- Đổi mới nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính, nhất là đối với người đứng đầu. Mở các lớp bồi dưỡng riêng cho từng chức danh đứng đầu cơ quan hành chính ở mỗi loại hình đơn vị hành chính và tổ chức đào tạo dài hạn đội ngũ kế cận cho từng chức danh này. Về nội dung, cần tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, quản lý và thực thi công vụ của từng vị trí công việc và các kiến thức, kinh nghiệm quản lý, điều hành mới của các nền hành chính hiện đại.

- Luật hiện hành quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ của HĐND, UBND các cấp gần giống nhau, do đó trong thực tế có tình trạng cùng một vấn đề cả 03 cấp HĐND đều bàn bạc và ra Nghị quyết thông qua. Vì vậy đề nghị tới đây cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng cơ cấu, tổ chức và nhiệm vụ, thẩm quyền của HĐND và UBND của mỗi cấp hành chính, phải phân địnhràng hơn.

- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dânỦy ban nhân dân năm 2003 quy định về mô hình tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của HĐND, UBND được áp dụng cho tất cả các cấp hành chính không phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của đơn vị hành chính đô thị và nông thôn. Đề nghị cần quy định rõ hơn giữa mô hình tổ chức, chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị và cơ chế hoạt động theo từng mô hình. Đẩy mạnh việc phân cấp cho chính quyền địa phương (tỉnh - cấp huyện - cấp xã).

- Luật cần quy định rõ việc thực hiện chế độ luân chuyển cán bộ, công chức theo yêu cầu của công việc, cũng như thay đổi chức danh Chủ tịch UBND trong trường hợp cần thiết.

- Sửa đổi Điều 52 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dânỦy ban nhân dân tỉnh năm 2003 theo hướng bỏ chức danh Ủy viên Thường trực, tăng 01 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

- Đề xuất tách và nâng Chương III Luật Tổ chức Hội đồng nhân dânỦy ban nhân dân năm 2003 thành Luật Giám sát của Hội đồng nhân dân để có cơ sở pháp lý cao trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp. Sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua - Khen thưởng theo hướng tặng kỷ niệm chương cho những đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động lâu năm, có nhiều đóng góp xuất sắc.

- Tăng cường và nâng cao hiệu lực hoạt động giám sát của HĐND và giám sát của nhân dân đối với UBND và người đứng đầu và chế cụ thể sau giám sát để xử lý trách nhiệm khi có vi phạm.

- Tiếp tục mở rộng thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường trong thời gian tới./.

                                                                                                                                                                NQT

[Trở về]

Các tin đã đưa:

   
   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 
 

Trang tin Sở Nội vụ - Thành viên Website Kiên Giang

Địa chỉ: Số 09 - Mạc Đỉnh Chi - Rạch Giá - Kiên Giang

Điện thoại: 0773.860144 , Email: snv@kiengiang.gov.vn

Giấy phép do Cục Báo chí cấp, số: 70/GP-BC